Một văn bằng ghi "nhóm 30" không có nghĩa mọi thứ thuộc nhóm 30 đều được bảo hộ. Độc quyền gắn với từng mặt hàng được liệt kê trong danh mục, không gắn với cả nhóm. Bên mua thương hiệu nhìn thấy số nhóm đúng ngành rồi yên tâm là lỗi rất phổ biến.
Bảng phân loại Nice chia hàng hoá, dịch vụ thành 45 nhóm: 34 nhóm hàng hoá và 11 nhóm dịch vụ. Mỗi nhóm là một ngăn kéo lớn chứa hàng trăm mặt hàng khác nhau. Bài này hướng dẫn bạn mở ngăn kéo đó ra, đọc từng dòng, rồi đặt cạnh danh sách sản phẩm đang tạo doanh thu của thương hiệu sắp mua. Ví dụ trong bài là ví dụ giả định.
Nhóm là ngăn kéo, danh mục mới là thứ được bảo hộ
Lấy nhóm 30 làm ví dụ: ngăn này chứa cà phê, trà, ca cao, đường, gạo, bột, bánh mì, bánh ngọt, bánh quy, kẹo, kem lạnh, mật ong, gia vị, nước sốt và rất nhiều thứ khác. Một người làm bánh quy và một người bán gia vị cùng chung nhóm nhưng hàng hoá chẳng liên quan gì đến nhau.
Khi nộp đơn, người nộp phải chọn nhóm và liệt kê cụ thể mặt hàng trong nhóm đó. Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định và cấp văn bằng cho danh sách được chấp nhận, có khi đã bị cắt bớt so với đơn ban đầu. Văn bằng cuối cùng ghi danh sách đó, và độc quyền đăng ký chỉ trải trên đúng danh sách đó.
Vì vậy câu hỏi đúng khi thẩm định không phải "văn bằng có nhóm 30 không" mà là "trong nhóm 30 của văn bằng, có dòng nào gọi tên sản phẩm mình đang mua về không". Hai câu hỏi nghe gần nhau nhưng kết quả có thể ngược hẳn.
Một chi tiết nữa: người nộp đơn trả lệ phí theo số nhóm và có giới hạn số mặt hàng trong mỗi nhóm trước khi phải trả thêm. Nhiều người khi đăng ký chỉ ghi vài mặt hàng chính để tiết kiệm, rồi doanh nghiệp lớn dần ra ngoài danh sách đó mà không ai nhớ quay lại bổ sung.
Đọc danh mục: từ chung, từ cụ thể và cụm từ mơ hồ
Từ chung bao được nhiều thứ. Một dòng ghi "bánh ngọt" thường được hiểu bao các loại bánh ngọt cụ thể như bánh bông lan, bánh bông lan cuộn. Từ chung là lợi thế cho bên mua, miễn là nó được Cục chấp nhận và ghi trên văn bằng.
Từ cụ thể không bao ngược lên. Nếu danh mục chỉ ghi "bánh quy bơ", thì bánh quy không bơ, bánh quy kẹp kem hay bánh xốp không chắc nằm trong phạm vi. Từ càng hẹp, phạm vi càng nhỏ.
Từ ghép có điều kiện. Các dòng kiểu "trà thảo mộc dùng cho mục đích không chữa bệnh" hay "đồ uống có thành phần chính là cà phê" có thêm điều kiện. Sản phẩm thật phải thoả điều kiện đó mới nằm trong phạm vi.
Cụm mơ hồ không cứu được. Những dòng như "các sản phẩm tương tự" hay "phụ kiện liên quan" thường bị Cục yêu cầu sửa hoặc loại bỏ khi thẩm định. Nếu văn bằng vẫn có cụm như vậy, đừng coi nó là tấm lưới rộng; khi tranh chấp, người ta sẽ hỏi cụ thể đó là mặt hàng gì.
Đọc bản tiếng Việt trên văn bằng. Có văn bằng xuất phát từ đơn nước ngoài, danh mục được dịch. Bản dịch có khi lệch nghĩa so với sản phẩm thật. Đọc đúng bản trên văn bằng Việt Nam, không đọc bản gốc tiếng Anh bên bán gửi.
Ví dụ giả định: đối chiếu hàng đang bán với danh mục nhóm 30
Ví dụ giả định một thương hiệu bánh đặc sản ở Hải Phòng, văn bằng cấp cho nhóm 30 với danh mục: bánh quy, bánh ngọt, bánh mì. Bên bán hiện có năm dòng sản phẩm.
| Sản phẩm đang bán | Tỷ trọng doanh thu (giả định) | Có trong danh mục? | Nhận xét cho bên mua |
|---|---|---|---|
| Bánh quy hộp quà | 35% | Có (bánh quy) | Nằm trong phạm vi |
| Bánh bông lan | 20% | Có (bánh ngọt) | Từ chung bao được |
| Kẹo lạc thủ công | 25% | Không | Cùng nhóm 30 nhưng không có dòng kẹo |
| Trà túi lọc tặng kèm | 10% | Không | Cùng nhóm, không có dòng trà |
| Hộp quà Tết phối nhiều món | 10% | Một phần | Phần bánh có, phần kẹo, trà, rượu thì không |
Trong ví dụ này, khoảng 35 đến 40 phần trăm doanh thu đến từ sản phẩm cùng nhóm nhưng không có trong danh mục. Nếu giá mua được tính trên toàn bộ doanh thu, bên mua đang trả cho một phần tài sản chưa được bảo hộ trực tiếp.
Dòng hộp quà là chỗ hay bị đọc sai nhất. Người bán gọi đó là "sản phẩm của thương hiệu", nhưng bên trong là nhiều mặt hàng thuộc nhiều nhóm khác nhau: bánh nhóm 30, rượu nhóm 33, hạt khô có khi nhóm 29. Muốn biết hộp quà được che chắn tới đâu, phải tách từng món ra đối chiếu, rồi xem thêm tên thương hiệu in trên vỏ hộp đang đóng vai trò nhãn cho hàng hoá nào.
Danh mục rộng hơn thực tế: phạm vi trên giấy và phạm vi dùng được
Ngược với trường hợp thiếu mặt hàng là trường hợp danh mục rất dài, liệt kê cả những thứ bên bán chưa từng sản xuất. Thoạt nhìn, bên mua thấy phạm vi rộng và dễ đánh giá cao tài sản. Cần nhớ rằng nhãn hiệu được bảo hộ để dùng thật; mặt hàng đăng ký mà nhiều năm không dùng là phần dễ bị người khác yêu cầu chấm dứt hiệu lực khi đủ điều kiện luật định.
Vì vậy khi đọc danh mục, bên mua nên chia thêm một cột: mặt hàng nào đang có sản phẩm thật, có hoá đơn, có bao bì; mặt hàng nào chỉ nằm trên giấy. Phần nằm trên giấy vẫn có giá trị nhất định nếu bạn định triển khai sớm sau khi mua, vì nó cho bạn thời gian. Nhưng nếu kế hoạch của bạn không đụng tới những mặt hàng đó, đừng để danh mục dài làm giá tăng.
Chi tiết rủi ro chấm dứt do không sử dụng và bộ chứng cứ sử dụng cần xin bên bán là một chủ đề riêng của thẩm định. Ở góc phạm vi, chỉ cần một nguyên tắc: phạm vi dùng được bằng phạm vi trên giấy trừ đi phần dễ bị mất, và chỉ phần dùng được mới nên được tính đầy đủ vào giá.
Một lưu ý cuối cho bên mua: danh mục rộng đôi khi là dấu hiệu của người nộp đơn kỹ tính, đã tính trước kế hoạch mở rộng. Đó là điểm cộng nếu kế hoạch ấy trùng với kế hoạch của bạn. Hỏi bên bán vì sao họ đăng ký những mặt hàng đó thường cho bạn thêm thông tin về hướng phát triển họ từng nhắm tới.
Hàng tương tự ngoài danh mục được che chắn tới đâu
Luật Sở hữu trí tuệ cho chủ văn bằng quyền ngăn người khác dùng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hoá trùng hoặc tương tự, nếu việc đó có khả năng gây nhầm lẫn. Như vậy kẹo lạc trong ví dụ trên không hoàn toàn trơ trọi: một đối thủ dùng đúng tên cho kẹo có thể bị coi là gây nhầm lẫn với bánh quy cùng tên, vì người mua quen thấy bánh kẹo bày chung.
Nhưng đây là phần phải lập luận, phải chứng minh, và kết quả phụ thuộc vào đánh giá của cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ. Nó khác hẳn với phần có tên trong danh mục, nơi chủ văn bằng chỉ cần đặt văn bằng lên bàn. Với bên mua, hai loại che chắn này không nên được định giá như nhau.
Hàng tương tự cũng chặn được người khác đăng ký: khi thẩm định đơn của người thứ ba cho kẹo, Cục có thể dùng văn bằng bánh quy làm đối chứng. Tuy vậy, kết quả thẩm định không phải là điều bạn kiểm soát, và một đơn của người khác cho mặt hàng xa hơn một chút có thể lọt qua.
Kết luận thực tế: coi mặt hàng có tên trong danh mục là tài sản chắc; coi mặt hàng tương tự là tài sản có điều kiện; coi mặt hàng không liên quan là chưa có tài sản.
Các bước lập bảng đối chiếu danh mục
Bạn có thể tự lập bảng này trong một buổi nếu bên bán hợp tác cung cấp số liệu doanh thu theo dòng sản phẩm.
- Chép nguyên văn danh mục trên văn bằng, mỗi mặt hàng một dòng, giữ đúng chữ.
- Lập danh sách sản phẩm và dịch vụ đang bán, kèm tỷ trọng doanh thu từng dòng trong một hoặc hai năm gần nhất.
- Với mỗi sản phẩm, tìm trong danh mục dòng gọi tên nó trực tiếp hoặc bằng từ chung bao được nó.
- Sản phẩm không tìm thấy dòng nào: ghi là "ngoài danh mục", rồi tự đánh giá sơ bộ mức tương tự với các dòng đã có.
- Cộng tỷ trọng doanh thu theo ba nhóm: trong danh mục, tương tự, không liên quan.
- Ghi thêm kế hoạch của bạn sau khi mua: dòng nào sẽ mở rộng, dòng nào sẽ dừng, để biết khoảng trống nào thật sự quan trọng.
Bảng này dùng được ngay trong buổi đàm phán và là đầu vào tốt cho người định giá nếu thương vụ có thuê định giá.
Lỗi hay gặp khi bên mua đọc danh mục
Những lỗi dưới đây đều xuất phát từ việc đọc lướt. Mỗi lỗi có thể làm sai lệch đáng kể giá trị mà bạn nghĩ mình đang mua:
- Chỉ đọc số nhóm trên trang đầu, không đọc danh sách mặt hàng ở trang sau.
- Coi tên ngành ("thực phẩm", "mỹ phẩm") là phạm vi bảo hộ, trong khi văn bằng ghi vài mặt hàng cụ thể.
- Đọc danh mục trong đơn ban đầu thay vì danh mục trên văn bằng, không biết đã bị cắt bớt khi thẩm định.
- Không tách hộp quà, bộ sản phẩm phối nhiều món thành từng thành phần để đối chiếu.
- Không hỏi về sản phẩm bên bán đã ngừng bán: danh mục có thể phủ thứ không còn kinh doanh, làm phạm vi trông rộng hơn giá trị thật.
- Quên kiểm các văn bằng khác cùng chủ có thể đang phủ phần còn thiếu, dẫn tới đánh giá thiếu tài sản.
Thủ tục bổ sung, sửa danh mục là việc của chủ văn bằng làm tại Cục; bên mua chỉ cần biết khoảng trống ở đâu để đưa vào thương lượng.
Câu hỏi thường gặp
Văn bằng cùng nhóm với sản phẩm của bên bán có đủ để yên tâm không?
Không đủ. Độc quyền gắn với từng mặt hàng được liệt kê trong danh mục, không gắn với cả nhóm. Bạn phải đọc từng dòng danh mục và tìm dòng gọi tên sản phẩm đang tạo doanh thu.
Từ chung trong danh mục như bánh ngọt có bao được bánh bông lan không?
Thông thường từ chung bao được các loại cụ thể nằm trong nó. Tuy nhiên ranh giới đôi khi không rõ với sản phẩm lai, nên với dòng doanh thu lớn bạn nên hỏi người làm nghề đánh giá thêm.
Sản phẩm không có trong danh mục có hoàn toàn mất bảo hộ không?
Không hẳn. Nếu sản phẩm đó tương tự với mặt hàng trong danh mục và việc người khác dùng cùng tên có thể gây nhầm lẫn, chủ văn bằng vẫn có cơ sở ngăn chặn. Nhưng đó là phần phải chứng minh, không chắc như mặt hàng có tên trong danh mục.
Danh mục trên văn bằng có thể khác danh mục trong đơn không?
Có. Trong quá trình thẩm định, Cục có thể yêu cầu sửa, thu hẹp hoặc loại bỏ một số mặt hàng. Văn bằng ghi danh mục cuối cùng được chấp nhận, nên bạn phải đọc bản trên văn bằng hoặc bản ghi hiện hành.
Phát hiện nhiều sản phẩm ngoài danh mục thì bên mua nên làm gì?
Tính tỷ trọng doanh thu của phần ngoài danh mục, đưa vào đàm phán giá, hoặc yêu cầu bên bán nộp đơn bổ sung trước khi chốt. Ít nhất bạn nên có cam đoan bằng văn bản về việc không có tranh chấp liên quan đến những sản phẩm đó.
Có cần đọc danh mục của các văn bằng khác cùng chủ sở hữu không?
Nên đọc. Một thương hiệu thường có vài văn bằng ở các thời điểm khác nhau, mỗi văn bằng phủ một phần. Đọc gộp mới thấy phạm vi tổng thể, tránh cả đánh giá thiếu lẫn đánh giá thừa.