Cam kết không dùng lại tên gần giống là điều khoản buộc bên bán, sau khi bán thương hiệu, không dùng và không đăng ký những dấu hiệu dễ gây nhầm với thương hiệu đã bán cho những hàng hoá, dịch vụ trong một phạm vi đã thoả thuận. Văn bằng nhãn hiệu cho bạn quyền ngăn người khác dùng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn, nhưng chỉ trong phạm vi bảo hộ và thường phải qua tranh chấp. Cam kết trong hợp đồng cho bạn một con đường ngắn hơn và rộng hơn đối với chính người bán.
Người bán thương hiệu thường là người hiểu thương hiệu nhất, quen khách nhất và biết rõ công thức nhất. Họ quay lại cùng nghề không có gì sai, nhưng nếu quay lại bằng một cái tên na ná thì giá trị bạn vừa mua có thể chảy ngược về họ. Bài này chỉ các kiểu quay lại thường gặp và cách viết cam kết vừa đủ chặt mà không quá tay.
Vì sao đã mua văn bằng vẫn cần cam kết riêng
Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có giới hạn rõ: đúng mẫu nhãn, đúng danh mục hàng hoá và dịch vụ đã đăng ký. Bên bán có thể mở một quán mang tên khác một chữ, bán một mặt hàng kế bên danh mục, hoặc dùng chính tên mình làm tên quán mới. Mỗi trường hợp như vậy, muốn ngăn bằng văn bằng thì bạn phải chứng minh dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn và hàng hoá trùng hoặc tương tự. Đó là cuộc tranh luận tốn thời gian, kết quả không chắc.
Cam kết trong hợp đồng thì khác. Hai bên tự thoả thuận phạm vi: những tên nào, những mặt hàng nào, trong bao lâu, ở đâu. Khi bên bán vi phạm, bạn chỉ cần chứng minh họ đã làm điều họ hứa không làm, không phải tranh luận về khả năng gây nhầm lẫn. Cam kết cũng có thể phủ những việc văn bằng không phủ, như nộp đơn đăng ký nhãn mới, đăng ký tên miền gần giống hay dùng tên đó trên mạng xã hội.
Cam kết không thay văn bằng. Nó chỉ ràng buộc người đã ký, không ràng buộc người thứ ba. Hai công cụ bổ sung nhau: văn bằng chống mọi người, cam kết chống riêng người hiểu thương hiệu của bạn nhất.
Những kiểu quay lại hay gặp
Tên biến thể. Thêm một chữ, đổi một chữ, thêm "mới", "chính gốc", "xưa" vào tên cũ. Khách quen nhìn là nhận ra, và đó chính là mục đích. Đây là kiểu dễ nhận diện nhất, nên cam kết cần liệt kê hoặc mô tả được nhóm biến thể.
Tên người sáng lập. Nhiều thương hiệu nhỏ mang tên chủ: tên bà, tên ông, tên gọi thân mật. Khi bán đi, người chủ vẫn mang tên đó suốt đời. Một quán mới mang tên người sáng lập ở cùng khu phố có sức kéo khách rất lớn.
Câu giới thiệu dựa vào thương hiệu cũ. Không dùng tên cũ làm nhãn nhưng ghi trên biển, trên trang "do người sáng lập thương hiệu cũ làm", "công thức gốc của thương hiệu cũ". Câu đó có thể đúng sự thật mà vẫn kéo khách của bạn đi.
Mặt hàng kế bên. Thương hiệu được bảo hộ cho bánh, người bán quay lại với đồ uống mang tên gần giống. Văn bằng có thể không phủ tới, nhưng khách vẫn nghĩ là cùng một nhà.
Nhãn gần giống giữ lại từ trước. Bên bán đã có sẵn một nhãn gần giống đăng ký từ trước mà không đưa vào gói. Đây là kiểu nguy hiểm nhất vì bên bán có quyền hợp pháp với nhãn đó, nếu hợp đồng không xử lý.
Phạm vi cam kết: nên viết và nên tránh
Cam kết quá hẹp thì vô dụng, quá rộng thì dễ bị tranh cãi về hiệu lực, nhất là khi nó gần như cấm người bán làm nghề. Bảng sau gợi ý cách viết theo từng yếu tố.
| Yếu tố | Nên viết | Nên tránh |
|---|---|---|
| Dấu hiệu bị cấm | Tên đã bán, các biến thể có cùng phần chính, phiên âm, viết tắt; mô tả rõ phần chính là gì | Cấm "mọi tên có thể gây liên tưởng" mà không định nghĩa |
| Hàng hoá, dịch vụ | Danh mục trong văn bằng và các mặt hàng kế bên mà thương hiệu đang bán thật | Cấm mọi ngành nghề |
| Thời gian | Một thời hạn hợp lý gắn với thời gian khách còn nhớ thương hiệu gắn với người bán | Cấm vĩnh viễn với các hành vi kinh doanh nói chung |
| Khu vực | Nơi thương hiệu thực sự có khách | Cấm trên toàn quốc với một quán chỉ có khách trong một phường |
| Hành vi | Dùng làm nhãn, tên quán, tên miền, tên trang; nộp đơn đăng ký; cho người khác dùng | Cấm mọi lời nhắc tới thương hiệu cũ, kể cả trong tiểu sử trung thực |
| Người bị ràng buộc | Bên bán, người sáng lập ký cùng, công ty do họ kiểm soát | Ràng buộc người thân không ký hợp đồng |
Cấm vĩnh viễn việc dùng tên đã bán làm nhãn thì hợp lý, vì đó là chính tài sản bạn mua. Còn cấm người bán làm cùng nghề thì nên có thời hạn và khu vực. Mức nào là hợp lý tuỳ từng thương vụ; cam kết có dấu hiệu hạn chế cạnh tranh quá mức nên được người làm nghề đọc lại theo pháp luật cạnh tranh và dân sự hiện hành.
Tên riêng của người sáng lập: xử lý thế nào cho công bằng
Mỗi người có quyền dùng tên của mình. Hợp đồng không thể bắt người sáng lập đổi tên, cũng không nên cấm họ ghi tên mình trên danh thiếp hay hồ sơ xin việc. Điều có thể thoả thuận là cách họ dùng tên đó trong kinh doanh, vì khi tên người đã trở thành nhãn hiệu, nó là tài sản bạn vừa mua.
Cách thường thấy là chia ba lớp. Lớp thứ nhất: người sáng lập không dùng tên mình, hoặc tên gọi thân mật đã thành thương hiệu, làm nhãn hay tên quán cho các mặt hàng trong phạm vi cam kết. Lớp thứ hai: người sáng lập được nói sự thật về quá khứ của mình, như "từng sáng lập và điều hành một thương hiệu bánh", nhưng không dùng tên thương hiệu cũ để quảng cáo cho cơ sở mới trong thời gian cam kết. Lớp thứ ba: ngoài phạm vi cam kết, người sáng lập tự do.
Nếu người sáng lập không phải là bên bán, ví dụ thương hiệu đứng tên công ty còn người sáng lập chỉ là cổ đông, hãy mời họ ký cùng hợp đồng hoặc ký một cam kết riêng. Cam kết của công ty bán không tự động ràng buộc cá nhân người sáng lập.
Gom các nhãn gần giống vào gói hoặc khoá chúng lại
Trước khi viết cam kết, hãy tra tất cả đơn và văn bằng đứng tên bên bán, người sáng lập và các công ty liên quan. Mỗi dấu hiệu gần giống cần một quyết định.
- Đưa vào gói chuyển nhượng. Cách sạch nhất. Bên mua nhận luôn và quyết định giữ hay bỏ.
- Bên bán rút đơn hoặc yêu cầu chấm dứt văn bằng. Dùng khi bên mua không cần nhãn đó và không muốn tốn chi phí duy trì. Nên có bằng chứng rút hoặc chấm dứt trước đợt thanh toán lớn.
- Bên bán giữ nhưng cam kết không dùng cho phạm vi đã nêu. Phương án yếu nhất, chỉ nên dùng khi nhãn đó phục vụ một mảng kinh doanh khác hẳn mà bên bán vẫn tiếp tục.
- Bên bán cam kết không nộp đơn mới. Phủ cả những dấu hiệu chưa ai nghĩ tới. Kèm nghĩa vụ chuyển cho bên mua nếu lỡ nộp hoặc đã nộp mà chưa kể.
Việc gom nhãn gần giống còn có lý do thủ tục: nếu bên bán vẫn giữ một nhãn tương tự cho hàng cùng loại, việc ghi nhận chuyển nhượng có thể gặp vướng vì nguy cơ gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá. Đó là thêm một lý do để làm sạch trước khi nộp hồ sơ.
Ví dụ giả định: một tiệm bánh ở Huế
Ví dụ giả định. Một tiệm bánh lọc ở Huế mang tên gọi thân mật của bà chủ, đã có văn bằng cho dịch vụ quán ăn và cho bánh đóng gói. Một công ty thực phẩm ở Đà Nẵng mua thương hiệu để làm bánh đóng gói bán siêu thị. Bà chủ muốn tiếp tục bán bánh tại nhà cho khách quen vì đó là niềm vui tuổi già, chứ không cần tiền từ việc này.
Nếu hợp đồng chỉ ghi "bên bán không dùng nhãn hiệu đã chuyển nhượng", bà chủ treo một tấm bảng nhỏ mang đúng tên gọi đó trước nhà là vi phạm, dù bà không hề có ý cạnh tranh. Còn nếu hợp đồng im lặng, một người cháu có thể mở quán mang tên "bánh lọc của bà" kèm tên gọi kia ở ngay trung tâm thành phố, và công ty mua không có căn cứ hợp đồng nào để ngăn.
Hai bên chọn cách viết theo lớp. Bà chủ được bán bánh tại nhà, không treo tên đã bán, không bán qua mạng, không cung cấp cho cửa hàng nào khác. Bà và các con ký cùng hợp đồng, cam kết không dùng tên gọi đó hay biến thể làm tên quán hoặc nhãn cho bánh trong một thời hạn, trên phạm vi thành phố Huế và những tỉnh, thành nơi sản phẩm đóng gói đã có mặt. Bà được nói với khách rằng mình từng làm thương hiệu đó. Cam kết vừa đủ chặt cho bên mua, vừa không biến người sáng lập thành người bị cấm sống bằng nghề của mình.
Hậu quả khi bên bán vi phạm
Phạt vi phạm theo thoả thuận. Hai bên ghi trước một mức phạt khi vi phạm cam kết. Với hợp đồng giữa thương nhân, pháp luật thương mại có giới hạn mức phạt vi phạm; nên đối chiếu văn bản hiện hành hoặc hỏi người làm nghề trước khi ghi con số.
Bồi thường thiệt hại. Ngoài phạt, bên mua có thể đòi bồi thường thiệt hại thực tế, nhưng phải chứng minh thiệt hại. Đây là phần khó; hợp đồng nên mô tả trước những loại thiệt hại hai bên thừa nhận có thể phát sinh.
Yêu cầu chấm dứt hành vi và chuyển giao. Bên bán phải ngừng dùng, chuyển cho bên mua tên miền hoặc đơn đã lỡ đăng ký, gỡ tên khỏi trang. Ghi rõ thời hạn thực hiện sau khi nhận thông báo.
Bù trừ vào phần tiền giữ lại. Nếu thương vụ có phần giá giữ lại trong một thời gian, vi phạm cam kết là một trong các căn cứ để bù trừ. Đây là chế tài nhanh nhất vì tiền đang ở phía bên mua.
Câu hỏi thường gặp
Đã có văn bằng nhãn hiệu rồi, sao còn cần bên bán cam kết không dùng tên gần giống?
Văn bằng chỉ bảo hộ trong phạm vi mẫu nhãn và danh mục đã đăng ký, và muốn ngăn dấu hiệu tương tự thì phải chứng minh khả năng gây nhầm lẫn. Cam kết trong hợp đồng cho phép bạn ràng buộc trực tiếp người bán với phạm vi do hai bên tự thoả thuận.
Có thể cấm người bán làm cùng nghề mãi mãi không?
Cấm dùng chính tên đã bán làm nhãn thì hợp lý không giới hạn thời gian. Còn cấm người bán làm cùng nghề nói chung thì nên có thời hạn và khu vực hợp lý; cam kết quá rộng dễ bị tranh cãi về hiệu lực theo pháp luật hiện hành.
Người sáng lập có được dùng tên mình sau khi bán thương hiệu mang tên họ không?
Họ vẫn có quyền với tên của mình, nhưng hợp đồng có thể thoả thuận họ không dùng tên đó làm nhãn hay tên cơ sở cho mặt hàng trong phạm vi cam kết. Việc nói sự thật về quá khứ, như từng sáng lập một thương hiệu, thường vẫn được phép.
Nếu thương hiệu đứng tên công ty thì cam kết của công ty có ràng buộc người sáng lập không?
Không tự động. Người sáng lập là một chủ thể khác. Muốn ràng buộc họ, hãy mời họ ký cùng hợp đồng với tư cách cá nhân hoặc ký một văn bản cam kết riêng.
Bên bán còn một nhãn gần giống đăng ký từ trước thì xử lý sao?
Có ba hướng: đưa vào gói chuyển nhượng, bên bán rút đơn hoặc yêu cầu chấm dứt văn bằng đó, hoặc bên bán giữ nhưng cam kết không dùng trong phạm vi đã nêu. Hướng thứ ba yếu nhất, chỉ dùng khi nhãn phục vụ một mảng kinh doanh khác hẳn.
Bên bán vi phạm cam kết thì bên mua đòi được gì?
Tuỳ hợp đồng: phạt vi phạm theo mức thoả thuận trong giới hạn luật cho phép, bồi thường thiệt hại chứng minh được, yêu cầu ngừng hành vi và chuyển giao tên miền hay đơn đã lỡ đăng ký, và bù trừ vào phần tiền đang giữ lại.